Free Essay

Triết 1

In: Philosophy and Psychology

Submitted By chichi93
Words 6094
Pages 25
Trường Đại học Ngoại Thương

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ VỚI CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Hà Nội – 10/2011

MỤC LỤC

Mở đầu ................................................................................................................1

I. Phép biện chứng và mối liên hệ phổ biến…………………………………………………...2

II. Vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế

độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế .....................................4

1. Độc lập – Tự chủ ……………………………………………………………………………………4

2. Hội nhập quốc tế ……………………………………………………………………………………5

3. Mối liên hệ giữa giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ

với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế …………………………………………………..6

4. Vận dụng có hiệu quả mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế

độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế …………………………..8

Kết luận ………………………………………………………………………………………………………..12

Danh mục tài liệu tham khảo ……………………………………………………………………….12

MỞ ĐẦU

Trong bối cảnh thế giới hiện nay, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành một xu thế khách quan và tất yếu của tất cả các quốc gia. Trong xu thế đó, quốc gia nào có chiến lược, đường lối đúng đắn và được thực hiện một cách hợp lý sẽ mang lại hiệu quả to lớn cho sự phát triển kinh tế, còn ngược lại sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng không những về kinh tế mà còn về chính trị. Để tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài, đặc biệt là nguồn vốn, tiến bộ khoa học công nghệ, các nước cần có sự mở cửa, giao lưu, hợp tác với nước ngoài. Tuy vậy, song song với hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta cần có sự thống nhất nhận thức về việc giữ độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập. Đây là một vấn đề đặc biệt quan trọng với các nước đang phát triển – các nước mà xuất phát điểm là từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, hàng hóa kém sức cạnh tranh. Lý do là bởi một khi đã hội nhập, các nước này khó tránh khỏi bị lệ thuộc về kinh tế và từ chỗ bị lệ thuộc về kinh tế có thể bị lệ thuộc về chính trị, dẫn đến không giữ vững được chủ quyền.

Nước ta cũng là một nước đang phát triển vì vậy chúng ta phải chủ động tham gia hội nhập kinh tế gắn liền với xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã nêu rõ một trong những quan điểm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2010 là “Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng”. Như vậy, Đảng và Nhà nước đã xác định độc lập tự chủ về kinh tế là nền tảng cơ bản đảm bảo sự bền vững của đất nước về chính trị.

Chính vì vấn đề hội nhập quốc tế hiện nay đang là một vấn đề bức thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước nên tôi đã quyết định chọn đề tài “Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” với mục đích làm sáng tỏ mối liên hệ biện chứng hữu cơ giữa hai hoạt động thực tiễn có vai trò then chốt trong sự phát triển kinh tế của đất nước ; từ đó đưa ra những đề xuất nhằm góp phần đẩy mạnh quan hệ giao lưu, buôn bán với nước ngoài mà vẫn đi theo đúng định hướng mà Đảng ta đã đề ra.

Bài tiểu luận này sẽ đề cập đến hai nội dung chính: Một là phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến theo quan quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đây chính là cơ sở triết học cho những ứng dụng vào thực tiễn phát triển kinh tế của nước ta. Hai là vận dụng những cơ sở triết học nêu trên để phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

I. Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến

Phép biện chứng duy vật là khoa học nghiên cứu về những quy luật phổ biến chi phối sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội, tư duy. Nó còn được biết đến như là khoa học về mối liên hệ phổ biến. Chính bởi vậy, một trong hai nguyên lí cơ bản của phép biện chứng duy vật là nguyên lí về mối liên hệ phổ biến. Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới. Còn khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới. Phép biện chứng duy vật khẳng định mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến. Sự vật là tiền đề, là điều kiện tồn tại và phát triển của nhau. Chúng thường xuyên thâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau làm cho ranh giới giữa các lớp sự vật, hiện tượng không phải là tuyệt đối mà bao giờ cũng có lớp trung gian chuyển tiếp. Mối liên hệ phổ biến không chỉ diễn ra giữa các sự vật khác nhau mà còn diễn ra trong bản thân từng sự vật.

Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan. Theo quan điểm đó, sự quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người.

Ngoài ra, quan điểm biện chứng còn khẳng định không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng khác; bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau. Nói cách khác, mối liên hệ có tính phổ biến, nó có trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy.

Một tính chất cơ bàn khác của mối liên hệ là tính đa dạng, phong phú. Tính chất này được thể hiện ở chỗ: các sự vật, hiện tượng khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó. Mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau. Có vô vàn các mối liên hệ như: bên trong và bên ngoài sự vật, bản chất và hiện tượng, chủ yếu và thứ yếu, trực tiếp và gián tiếp…

Từ nội dung của mối liên hệ phổ biến là bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác và mối liên hệ rất đa dạng phong phú do đó, trong hoạt động nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn, cần có quan điểm toàn diện, tránh quan điểm phiến diện, chỉ xem xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay về tính quy luật của chúng. Quan điểm toàn diên đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần phải xem xét sự vật trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sư tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật và xử lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn.

Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ đã cho thấy bên cạnh quan điểm toàn diện, chúng ta còn cần thực hiện quan điểm lịch sử - cụ thể. Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu trong vệc nhận thức và xử lý các tình huống trong hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn. Phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những tình huống cụ thể để từ đó có được những giải pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn.

II. Vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

1. Độc lập – Tự chủ

Độc lập/Tự chủ tuy là hai khái niệm riêng biệt nhưng có liên quan tới nhau. Độc lập dùng để chỉ trạng thái một nước không bị lệ thuộc, phụ thuộc vào bên ngoài cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ không bị nước ngoài đe dọa. Trong khi đó, tự chủ thể hiện khả năng một nước tự kiểm soát được các tiến trình, nhất là tiến trình chính sách, trong phạm vi quản lý của mình, không bị nước ngoài can thiệp. Như vậy, có độc lập thì có điêu kiện tự chủ; hoặc ngược lại, có tự chủ thể hiện có độc lập. Trong phạm vi bài viết này, độc lập/tự chủ dùng để chỉ một hiện tượng trên thực chất liên quan tới chủ quyền của quốc gia trong lĩnh vực quan hệ đối ngoại và đối nội. Độc lập tự chủ là khả năng một nước giữ được ở mức cao nhất có thể chủ quyền và sự tự quyết trong các vấn đề liên quan tới hoạch định và triển khai chính sách đối nội và đối ngoại của mình nhằm mục tiêu bảo vệ lợi ích dân tộc của mình.

Khác với trước đây khi nói tới độc lập tự chủ về kinh tế, nhiều người thường hình dung tới một nền kinh tế khép kín, tự cung, tự cấp, trong điều kiện hiện nay, độc lập tự chủ về kinh tế phải là độc lập, tự chủ trong phát triển kinh tế thị trường và tự chủ mở cửa, hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới, tích cực tham gia vào sự giao lưu, hợp tác, phân công lao động quốc tế trên cơ sở phát huy tốt nội lực, lợi thế so sánh của quốc gia để cạnh tranh có hiệu quả trên thương trường quốc tế.

Độc lập tự chủ được thể hiện cụ thể trong các mặt sau:

- Tự lực tự cường và sáng tạo trong nhận thức và xây dựng chính sách, trên cơ sở bám sát vào quyền lợi dân tộc và hoàn cảnh cụ thể. Bác Hồ viết: “Tự lực cánh sinh là cái gốc, điểm mấu chốt về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta”.

- Tự lực tự cường không đồng nghĩa với biệt lập, mà đó là sự chủ động mở rộng hợp tác quốc tế, xử lý đúng đắn các mối quan hệ lợi ích dân tộc và giai cấp, quốc gia và thời đại, cân đối các mặt và lĩnh vực hợp tác quốc tế phù hợp với lợi ích dân tộc.

- Tự lực tự cường và hợp tác quốc tế không đồng nghĩa với việc lảng tránh thực hiện nghĩa vụ trong quan hệ quốc tế, tức không chỉ “nhận” mà còn phải “cho”. Bác Hồ căn dặn: “Mình đã hưởng cái hay của người thì mình cũng phải có cái hay cho người ta hưởng. Mình đừng chịu vay mà không trả”.

Như vậy, độc lập tự chủ là mục tiêu của chính sách quốc gia và là nội dung chủ yếu của lợi ích dân tộc.

2. Hội nhập quốc tế

Như trên đã phân tích, độc lập tự chủ không đồng nghĩa với biệt lập. Trái lại, và nhất là trong hoàn cảnh quan hệ quốc tế đương đại, các nước càng phải tăng cường hợp tác quốc tế. Tiêu chí để đánh giá độc lập tự chủ không phải là mức độ “tối thiểu hóa” quan hệ với bên ngoài mà là sự tự quyết trong việc mở rộng (hoặc thu hẹp) các mối quan hệ quốc tế theo đòi hỏi của lợi ích quốc gia. Ngày nay, đa số các nước trên thế giới đều tham gia vào quan hệ quốc tế ở các mức độ khác nhau. Như vậy, có thể cho rẳng quá trình chủ động tham gia ngày càng sâu sắc vào đời sống mọi mặt của quan hệ quốc tế là quá trình hội nhập.

Tham gia vào mọi mặt đời sống quan hệ quốc tế có nghĩa là phải tham gia vào các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội. Trong đó, hội nhập kinh tế quốc tế có thể được hiểu như sau: bản chất của hội nhập kinh tế là tham gia vào nền kinh tế khu vực và thế giới dựa trên lợi thế so sánh và từ đó tham gia vào phân công lao động khu vực và thế giới, biến nền kinh tế nước ta trở thành một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế khu vực và thế giới. Đây còn là sự chấp nhận quy luật vận động của nền kinh tế theo các nguyên tắc của kinh tế thị trường. Về mặt hình thức, đây là sự tham gia của Việt Nam vào các hiệp định kinh tế song phương và đa phương. Về mặt nội dung, đây là việc tạo điều kiện để thu hút FDI và tăng dần đầu tư ra nước ngoài, tăng cường thương mại, qua đó tiếp thu kỹ thuật quản lý và công nghệ cho nền kinh tế quốc dân.

Các nguyên tắc hội nhập kinh tế quốc tế nói chung mà WTO nêu ra là: không phân biệt đối xử, tiếp cận thị trường, cạnh tranh công bằng, áp dụng các hành động khẩn cấp trong trường hợp cần thiết, dành ưu đãi cho các nước đang và chậm phát triển. Nội dung của hội nhập kinh tế là mở của thị trường, tạo điều kiện thuận lợi để tự do buôn bán, phát triển. Về thương mại hàng hóa: các nước cam kết bãi bỏ hàng rào phi thuế quan như giấy phép xuất khẩu. Về thương mại dịch vụ: các nước mở cửa thị trường cho nhau với 4 phương thức: cung cấp qua biên giới, sử dụng dịch vụ ngoài lãnh thổ, thông qua doanh nhân, hiện diện thể nhân. Về thị trường đầu tư: không áp dụng đối với đầu tư nước ngoài các yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa cân bằng xuất nhập khẩu, hạn chế tiếp cận nguồn ngoại tệ…

Hội nhập là một quá trình có tính quy luật khách quan và bao quát mọi mặt đời sống quan hệ quốc tế, nhưng chính sách hội nhập lại là một tiến trình chủ quan. Đó là do việc chọn hội nhập hay không hội nhập là thể hiện sự tính toán chủ quan của từng nước, mặc dù ngày càng có ít nước chấp nhận chính sách biệt lập. Hội nhập mức nào, trên lĩnh vực nào lại phụ thuộc vào sự lựa chọn của từng nước dựa trên hoàn cảnh lịch sử, điều kiện chính trị, văn hóa, kinh tế cụ thể.

3. Mối liên hệ giữa giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay có mối quan hệ chặt chẽ, tác động thúc đẩy lẫn nhau. Nền kinh tế độc lập tự chủ là cơ sở để mở rộng hội nhập quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Đó là vì: muốn hội nhập quốc tế càng sâu rộng thì cái gốc độc lập dân tộc càng phải củng cố, có độc lập dân tộc thì hội nhập quốc tế mới có định hướng. Đồng thời, tư thế một nước độc lập làm tăng giá trị của đất nước đó khi hội nhập do cộng đồng thế giới luôn đánh giá cao các nước có tư thế, chính sách và bản sắc độc lập. Việt Nam có gia tài lịch sử đấu tranh vì độc lập dân tộc, được thế giới kính trọng vì kiên quyết giữ độc lập dân tộc, vì thế được nhiều nước coi trọng và muốn thiết lập quan hệ. Ngược lại, nếu không có độc lập tự chủ, một nước có thể dễ dàng trở thành “sân chơi” cho các thế lực kinh tế, chính trị quốc tế trong quá trình hội nhập. Cuối cùng, độc lập dân tộc là “chiếc neo bản sắc”: càng hội nhập sâu rộng càng cần bản sắc, càng có nhu cầu giữ giá trị văn hóa, truyền thống dân tộc trong một hoàn cảnh quan hệ đã trở nên quốc tế hóa. Bài học của nước Nhật từ thời cải cách Minh Trị cho thấy cách tân và giữ gìn bản sắc là hai quá trình song song, bổ sung cho nhau, trong đó, giữ được “hồn cốt” Nhật đồng thời tiếp thu tinh hoa công nghệ và văn hóa phương Tây là cơ sở để Nhật tạo nên sự phát triển thần kì của nền kinh tế. Ngược lại, một số nước hội nhập không thành công, trở thành lệ thuộc vào nước khác. Đối với Việt Nam, giữ vững độc lập, tự chủ về kinh tế còn là điều kiện tiên quyết để giữ vững định hướng XHCN trong quá trình hội nhập quốc tế.

Độc lập tự chủ quyết định bước đi hội nhập quốc tế. Điều này thể hiện mối quan hệ giữa quyết định chủ quan trước xu thế khách quan: trong khi toàn cầu hóa là xu thế khách quan, việc các nước quyết định mức độ, phạm vi và bước hội nhập là thuộc yếu tố chủ quan nằm trong chủ quyền của từng nước. Mỗi nước có quyền hoạch định và triển khai chính sách liên quan đến quá trình hội nhập của mình, căn cứ vào hoàn cảnh và lợi ích cụ thể của mình. Trong quá trình đàm phán gia nhập WTO, Campuchia chấp nhận hết các điều kiện mà các bên đàm phán đưa ra để mau chóng trở thành thành viên của tổ chức này. Trong khi đó, Nga đàm phán với WTO rất khó khăn. Ở một thái cực khác, Myanmar đóng cửa đất nước, hạn chế ở mức thấp nhất giao tiếp với thế giới bên ngoài.

Mặt khác, hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế là điều kiện cần thiết để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ; nó cho phép chúng ta tận dụng được ngoại lực để phát huy nội lực, đẩy nhanh tăng trưởng, phát triển kinh tế, nâng cao vị thế của nền kinh tế nước ta trong khu vực và thế giới. Cụ thể là, hội nhập quốc tế tạo ra các mối ràng buộc và đan xen lợi ích, đồng thời tăng them nguồn lực để bảo vệ đất nước, và nhất là đưa quốc gia vào dòng chảy chính của xu thế phát triển quan hệ quốc tế. Như vậy, hội nhập quốc tế chính là phiên bản mới của phương châm “kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại” vì mục tiêu bảo vệ và xây dựng đất nước.

Tuy nhiên, bên cạnh sự tác động tích cực, giữa hai quá trình đó cũng có những tác động trái chiều nhau. Tập trung xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ sẽ làm nảy sinh tâm lý không muốn hội nhập quốc tế, hoặc hội nhập quốc tế một cách dè dặt, dễ bỏ lỡ thời cơ của đất nước. Mặt khác, hội nhập quốc tế cũng sẽ đặt ra không ít những thách thức đối với xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế, tính phụ thuộc lẫn nhau đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia ngày càng tăng, nhất là đối với những nền kinh tế sức cạnh tranh còn nhiều hạn chế như nước ta. Đặc biệt là, trong bối cảnh hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch triệt để lợi dụng xu thế toàn cầu hoá kinh tế để đẩy mạnh chống phá cách mạng nước ta. Bằng nhiều con đường khác nhau, nhất là thông qua con đường hợp tác đầu tư, chúng khuyến khích phát triển mạnh kinh tế tư nhân hòng lấn át kinh tế nhà nước, thực chất là nhằm xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, thủ tiêu cơ sở kinh tế của CNXH, từng bước tạo ra những tiền đề cho chuyển hoá chế độ kinh tế - xã hội ở nước ta. Đồng thời, thực hiện chiến lược “chi phối đầu tư”, các thế lực thù địch còn tìm cách xâm nhập, khống chế các ngành kinh tế then chốt, nhằm tạo sự lệ thuộc, lái nền kinh tế nước ta từng bước đi theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.

4. Vận dụng có hiệu quả mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Những tác động trái chiều giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay là hiện hữu. Tuy nhiên, mức độ tác động tiêu cực còn phụ thuộc vào nhận thức và tính năng động của chúng ta. Để hiện thực hoá quan điểm trên do Đại hội XI của Đảng xác định, cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập quốc tế; theo đó, chúng ta cần nỗ lực phấn đấu thực hiện tốt những nội dung chủ yếu sau:

Một là, tăng cường khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế, tạo vị thế cho nước ta hội nhập quốc tế sâu rộng. Thực hiện vấn đề này, cần nhận thức đúng nền kinh tếđộc lập tự chủ trong điều kiện hội nhập quốc tế là nền kinh tế không biệt lập, khép kín, tự cung, tự cấp, tự sản xuất mọi thứ bằng mọi giá; không phải là sự quyết định tùy tiện, cứng nhắc, không tính đến các quy định cũng như tập quáncủa các thể chế kinh tế - tài chính quốc tế, không thực hiện đúng các cam kết quốc tế, không quan tâm đến lợi ích của các đối tác. Để tăng cường khả năng độc lập, tự chủ, chúng ta phải chú trọng thực lực của nền kinh tế thông qua tập trung phát triển mạnh một số ngành, lĩnh vực và sản phẩm kinh tế chủ yếu có hiệu quả và sức cạnh tranh cao, như: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, hoá dầu…; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế -xã hội ngày càng đầy đủ, hiện đại, đồng bộ đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sản xuất, đời sống nhân dân và của chính hội nhập quốc tế; tăng cường năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ, nhanh chóng thích nghi và làm chủ công nghệ mới, công nghệ ngoại nhập. Quá trình đó cần chú ý giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát triển các thành phần kinh tế, các loại thị trường; tăng nhanh dự trữ ngoại tệ, kiểm soát chặt chẽ nợ nước ngoài; có hệ thống luật pháp hoàn chỉnh, mạng lưới an sinh xã hội khả thi. Đồng thời, phải bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, an toàn năng lượng, tài chính - tiền tệ, môi trường; bảo đảm cho nền kinh tế đất nước phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững và “luôn chủ động thích ứng với những thay đổi của tình hình, bảo đảm hiệu quả và lợi ích quốc gia” như Văn kiện Đại hội XI của Đảng đã xác định.

Hai là, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế của đất nước.Thực hiện vấn đề này, trước hết phải luôn duy trì nền kinh tế ở mức tăng trưởng cao và bền vững; thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu chủ yếu mà Đại hội XI của Đảng đề ra: tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm 2011-2015: 7,0 - 7,5%/năm; bình quân 5 năm, giá trị gia tăng công nghiệp - xây dựng từ 7,8- 8%; giá trị gia tăng nông nghiệp từ 2,6 - 3%/năm; cơ cấu GDP: nông nghiệp 17- 18%, công nghiệp và xây dựng 41 - 42%; sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt 35% tổng GDP; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 55%... Đồng thời, phải phát huy tối đa lợi thế so sánh để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Theo đó, cần triệt để tận dụng lợi thế về vị trí địa kinh tế để mở rộng sự ảnh hưởng của nền kinh tế nước ta trong khu vực và trên thế giới; triệt để phát huy lợi thế về tài nguyên thiên nhiên để phát triển các ngành kinh tế mà các nền kinh tế khác không có điều kiện; tận dụng lợi thế về nguồn nhân lực dồi dào, giá rẻ để phát triển kinh tế, thu hút đầu tư và tăng cường xuất khẩu lao động, tạo việc làm và tăng thu nhập, tham gia ngày càng sâu rộng vào phân công lao động, hợp tác quốc tế. Đồng thời, chú trọng phát triển các sản phẩm truyền thống đã và đang có ưu thế trên thị trường quốc tế, như: hàng mỹ nghệ, dệt may, giày da, thủy sản, v.v. Đáng lưu ý là, trong hội nhập quốc tế, các doanh nghiệp nước ta phải biết phân tán rủi ro ra nhiều lĩnh vực, nhiều thị trường, đối tác và khách hàng. Trong quan hệ với các doanh nghiệp nước ngoài, phải thực sự “biết mình, biết người”, tránh đối đầu trực tiếp với các đối thủ mạnh; đề cao đàm phán, thương lượng, biết chia sẻ cùng đối tác, tăng cường sự hợp tác để giảm áp lực cạnh tranh. Trước sự chi phối thị trường thế giới của các công ty xuyên quốc gia có thế lực, các doanh nghiệp Việt Nam phải biết cách thâm nhập vào thị trường "ngách", hướng tới những nơi đối thủ còn bỏ ngỏ; phải luôn đổi mới sản phẩm (cả khi nó đang hưng thịnh); nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm chi phí trên cơ sở lựa chọn phương án sản xuất tối ưu; đổi mới phương pháp quản lý, tinh giản bộ máy, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; đổi mới khoa học, công nghệ (nhất là ở các khâu then chốt có ảnh hưởng mạnh đến chất lượng sản phẩm và chi phí), để tạo ưu thế cạnh tranh của hàng hóa.

Ba là, hội nhập quốc tế tích cực và chủ động nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của nền kinh tế thế giới đối với nền kinh tế nước ta. Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế là tất yếu khách quan của quá trình hội nhập quốc tế. Điều đó đòi hỏi các quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế phải tích cực và chủ động; có sự chuẩn bị chu đáo, vững chắc các điều kiện trong nước để đáp ứng các yêu cầu đặt ra trong mỗi bước đi của lộ trình hội nhập quốc tế. Nhận thức được vấn đề này, trên cơ sở nắm vững các quy luật, tính tất yếu của sự vận động kinh tế toàn cầu, phát huy năng lực nội sinh của đất nước, Đảng ta đã xác định lộ trình, nội dung, quy mô, bước đi hội nhập quốc tế phù hợp. Đảng chủ trương thực hiện đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế quốc tế; không chỉ tập trung vào một thị trường, một sản phẩm; chủ động thực hiện các cam kết song phương, đa phương, vận dụng các “luật chơi” của các thể chế kinh tế - thương mại quốc tế trên cơ sở bảo đảm lợi ích tối cao của đất nước; vừa hợp tác, vừa đấu tranh, không bị động và cũng không nóng vội, chủ quan, chủ động lựa chọn đối tác và phương thức kinh doanh, dự báo được những thuận lợi và khó khăn khi hội nhập quốc tế.

Tích cực hội nhập quốc tế được thể hiện với tinh thần mạnh mẽ, khẩn trương, toàn diện và sâu rộng hơn so với giai đoạn trước. Chúng ta không chần chừ, do dự mà đẩy mạnh đổi mới bên trong, từ phương thức lãnh đạo, quản lý đến hoạt động thực tiễn, từ Trung ương đến địa phương, doanh nghiệp; khẩn trương hoàn thiện chiến lược, lộ trình, kế hoạch hội nhập quốc tế; tích cực tranh thủ vốn đầu tư nước ngoài; đồng thời, mạnh dạn đầu tư ra ngoài nước, mở rộng, đa dạng hoá các hoạt động kinh tế đối ngoại và tham gia các thể chế, định chế kinh tế quốc tế, thực hiện các cam kết quốc tế.

Tích cực hội nhập quốc tế còn thể hiện ở việc không duy trì quá lâu các chính sách bảo hộ, khắc phục nhanh tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự bao cấp của Nhà nước. Tích cực nhưng vững chắc, có sự chuẩn bị cần thiết về chuyển dịch cơcấu kinh tế, nâng cao năng lực quản lý, hoàn thiện hệ thống luật pháp, có thông tin cập nhật và dự báo tình hình chính xác, có đội ngũ cán bộ hiểu biết về thị trường, đối tác, tinh thông nghiệp vụ hội nhập quốc tế.

Bốn là, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong hội nhập quốc tế là một trong những nội dung quan trọng nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập quốc tế của nước ta trong tình hình mới.

Một trong những nội dung trọng tâm của kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong hội nhập quốc tế hiện nay là phải giữ vững độc lập, chủ quyền, bảo đảm lợi ích quốc gia dân tộc, không để các thế lực thù địch lợi dụng để đẩy mạnh thực hiện chiến lược “Diễnbiến hòa bình”, chống phá cách mạng nước ta. Mở rộng quan hệ quốc tế phải quán triệt và thực hiện nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc; giải quyết các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình. Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả các quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại để tạo sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới, thực hiện “thêm bạn, bớt thù”, tạo môi trường, điều kiện bảo vệ Tổ quốc “từ xa”.

Trong hội nhập quốc tế, nhất là trong hợp tác về kinh tế với các nước và vùng lãnh thổ, các trung tâm kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực, phải hướng vào việc phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại; chú ý lựa chọn những đối tác, những ngành, lĩnh vực, địa bàn có lợi cho cả phát triển kinh tế, xã hội và tăng cường quốc phòng, an ninh của đất nước. Triệt để khắc phục tình trạng chỉ nhằm lợi ích kinh tế mà không tính đến lợi ích quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nước.

Thực hiện tốt các nội dung trên sẽ góp phần quan trọng vào việc giữ được độc lập tự chủ về kinh tế, tạo cơ sở bảo đảm giữ vững định hướng XHCN trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

KẾT LUẬN

Dựa trên cơ sở triết học về mối liên hệ phổ biến, bài viết đã giải thích mối liên hệ biện chứng hữu cơ giữa hai vấn đề thực tiễn là xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế. Đó là mối quan hệ hai chiều, tác động lẫn nhau, bao gồm cả mặt tích cực và tiêu cực. Từ đó, chúng ta rút ra được một số biện pháp, định hướng để vận dụng có hiệu quả mối liên hệ ấy vào quá trình phát triển kinh tế Việt Nam nói riêng và quá trình xây dựng đất nước nói chung. Có thể nói, chủ đề triết luận của bài viết này có giá trị thực tiễn rất cao, và nhất là trong bối cảnh quan hệ quốc tế diễn biến ngày càng phức tạp, thì việc nghiên cứu và phát triển thêm nội dung của chủ đề này là rất cần thiết. Khi đó, ta cần căn cứ vào những biến đổi của tình hình thế giới và thực tế tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam để có những phân tích, đề xuất phù hợp, góp phần làm đất nước ngày càng phát triển bền vững và giàu mạnh.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin” (NXB Chính trị quốc gia, 2010).

2. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam.

3. Sách Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000 (NXB Chính trị quốc gia, 2002).

4. Báo điện tử Tạp chí Quốc phòng toàn dân, bài viết “Giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập quốc tế” (Đại tá, TS. Nguyễn Đức Độ)

5. Tạp chí Kinh tế và Chính trị thế giới (số 2/2009), bài viết “Quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế” (TS. Nguyễn Vũ Tùng).

-----------------------

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Linh Chi

Lớp: A3 – Khối 1 – Tài chính ngân hàng – K50

Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Đoàn Văn Khái…...

Similar Documents

Free Essay

Tiêu Luận Triết

...MỤC LỤC : I. ĐẶT VẤN ĐỀ : 2 II. NỘI DUNG . 2 A. LÝ LUẬN XUẤT KHẨU TƯ BẢN 2 1) Bản chất của xuất khẩu tư bản : 2 Các hình thức và hậu quả của xuất khẩu tư bản : 2 2) Những biểu hiện mới của xuất khẩu tư bản trong giai đoạn phát triển hiện nay của chủ nghĩa tư bản 4 B. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI – XU HƯỚNG QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN 6 1. Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài 6 2. Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước đang phát triển 8 C. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM. 9 a) Các dự án FDI tạo ra thu nhập cao thúc đẩy nâng cao năng lực cho người lao động Việt Nam 9 b) FDI thúc đẩy quá trình mở cửa và hội nhập nền kinh tế thế giới 10 III. TỔNG KẾT 11 i. Báo cáo kết quả nghiên cứu : 11 ii. Ý nghĩa của việc nghiên cứu : 12 iii. Danh mục tài liệu tham khảo : 12 I. ĐẶT VẤN ĐỀ : Từ trước tới nay có khá nhiều người luôn thắc mắc về bản chất xuất khẩu tư bản là gì ? Biểu hiện của xuất khẩu tư bản ra sao ? Nếu bản chất của xuất khẩu tư bản là bóc lột giá trị thặng dư và các nguồn lợi khác ở các nước nhập khẩu tư bản theo như Lênin khẳng định , thì tại sao những nước đang phát triển như Việt Nam lại đang tích cực và chủ động kêu gọi đầu tư nước ngoài ? ?? .Nôi dung bài viết : XUẤT KHẨU TƯ BẢN- sẽ cho các bạn một cái nhìn sâu sắc hơn về xuất khẩu tư bản .– một trong những đặc điểm chính của thế giới tư bản độc quyền –giai đoạn mới của chủ nghĩa......

Words: 6390 - Pages: 26

Premium Essay

Unit 1 Assignment 1

...Unit 1 Assignment 1 1. Describe the role of software for computers: Computer software tells the hardware what to do. Without any software, the hardware would be worthless. Think of the software as a subject in school, and the hardware as you or your brain. Without any learning, you can't do anything. One you have learned some math, and then you are able to solve math problems. This learning is usually accomplished through downloads or CD's that are loaded into the computer. At the very basic level, computer software contains specific instructions for how to accomplish a specific task. These instructions tell the hardware exactly what to do, and how to do it 2. Identify the hardware associate with a computer: the physical components that make up a computer system. There are many different kinds of hardware that can be installed inside, and connected to the outside, of a computer. Here are some common individual computer hardware components that you'll often find inside a modern computer case: Motherboard, Central Processing Unit (CPU), Random Access Memory (RAM), Power Supply Video Card, Hard Drive (HDD), Solid-State Drive (SSD), Optical Drive (e.g. BD/DVD/CD drive) Card Reader (SD/SDHC, CF), etc. Here is some common hardware that you might find connected to the outside of a computer: Monitor, Keyboard, and Mouse 3. Describe how computer store data: it converts the request into binary digits and its stores the data in a database. As a table format. The binary data can......

Words: 324 - Pages: 2

Premium Essay

Case 1-1

...as goodwill. Long-term debt and other obligations of an acquired company should be valued for consolidation purposes at their fair value. On January 1, 2010, Lester Company purchased 70% of Stork Corporation's $5 par common stock for $600,000. The book value of Stork net assets was $640,000 at that time. The fair value of Stork's identifiable net assets were the same as their book value except for equipment that was $40,000 in excess of the book value. In the January 1, 2010, consolidated balance sheet, goodwill would be reported at $177,143. When the value implied by the purchase price of a subsidiary is in excess of the fair value of identifiable net assets, the workpaper entry to allocate the difference between implied and book value includes a 1. debit to Difference Between Implied and Book Value. 2. credit to Excess of Implied over Fair Value. 3. credit to Difference Between Implied and Book Value. c. 3 If the fair value of the subsidiary's identifiable net assets exceeds both the book value and the value implied by the purchase price, the workpaper entry to eliminate the investment account debits Difference Between Implied and Book Value. The entry to amortize the amount of difference between implied and book value allocated to an unspecified intangible is recorded 1. on the subsidiary's books. 2. on the parent's books. 3. on the consolidated statements workpaper. c. 3 The excess......

Words: 4751 - Pages: 20

Premium Essay

Wk 1 Dis 1

...“marginal” means “extra,” “additional,” or “a change in.” Most choices or decisions involve changes in the status quo, meaning the existing state of affairs. For instance, should you attend school for another year? Should you study an extra hour for an exam? Should you supersize your fries? Similarly, should a business expand or reduce its output? Should government increase or decrease its funding for a missile defense system (Brue & McConnell, 2010)? Each option involves marginal benefits and, be- cause of scarce resources, marginal costs. In making choices rationally, the decision maker must compare those two amounts. Example: You and your fiancée are shopping for an engagement ring. Should you buy a 1/2-carat diamond, a 5/8-carat diamond, a 3/4-carat diamond, a 1-carat diamond, or something even larger? The marginal cost of a larger-size diamond is the added expense beyond the cost of the smaller-size diamond. The marginal benefit is the perceived greater lifetime pleasure (utility) from the larger-size stone. If the marginal benefit of the larger diamond exceeds its marginal cost (and you can afford it), buy the larger stone. But if the marginal cost is more than the marginal benefit, buy the smaller diamond instead, even if you can afford the larger stone (Brue & McConnell, 2010)! I myself have been making decisions in which I have weighed marginal cost and marginal benefits during the holiday season. For example, for Christmas I was buying my daughter a......

Words: 597 - Pages: 3

Free Essay

Triet Hoc Dong Phuong

...Chương IV I. Lẽ nhất quán trong tư tưởng Đông phương Tư tưởng Đông phương cho rằng mọi sư vật có liên quan với nhau, chằng chịt dính liền như một sợi dây cột chặt mọi sự vật trên đời. Quan niệm nhất quán ấy của người Đông phương khiến họ không chấp nhận sự phân chia sự vật thành từng khu vực riêng biệt. Tương tự về vấn đề triết học, họ không phân chia như Tây phương thành bốn bộ môn biệt lập là: Siêu hình học (Metaphysic), Tâm lý học (Psychology), Luận lý học (Logic) và Đạo đức học ( Moral). Đông phương tư tưởng cho rằng "tất cả đều có hai mặt, tất cả đều chứa mâu thuẫn, tất cả những chân lý nói ra được chỉ là những thứ chân lý phiến diện mà thôi...". Cho nên những tư tưởng một chiều, được phân loại kỹ lưỡng, như là tư tưởng siêu hình / đạo đức, vũ trụ / nhân sinh / tri thức quan v.v đều là những gì người Đông phương thụ lãnh sau này của Tây phương triết học. Thí dụ điển hình cho cái học nhất quán: quyên sách tối cổ dùng làm căn bản cho mọi tư tưởng văn hoá Trung Hoa là quyển Dịch Kinh. Kinh Dịch là một quyển sách gồm cả triết học, tâm lý, luân lý, đạo đức, bói toán, y học, xã hội, chính trị, tu thân, trị nước, thiên văn, địa lý,v.v... nên ta muốn dùng nó về khía cạnh nào cũng được. Tất cả là một, như các bộ phận tâm, can, tỳ, phế, thận trong một cơ thể sống vậy. Không có bộ phận nào mà không liên lạc mật thiết với các bộ phận khác. Thảy đều là một. II. Thuyết tri hành trong tư tưởng Đông phương ...

Words: 307 - Pages: 2

Premium Essay

Egt 1 Task 1

...EGT 1 Task 1 A. 1. The profit maximization approach used when total revenue and total cost are compared is the largest positive gap or profit gained between total revenue less total cost. In the table provided the largest profit or profit maximization would be $540. When you produce 8 items profit is at its highest point. To calculate total revenue you take the price times the quantity and to calculate total cost you take the sum of variable and fixed costs. 2. The profit maximization approach used when marginal revenue and marginal cost are compared is to take the marginal revenue less the marginal cost. In this process you look at how each additional unit affects total revenue and total cost. Marginal revenue is equal to the change of total revenue divided by change in quantity and Marginal cost is equal to the change in total cost divided by change in quantity. Once marginal cost exceeds marginal revenue it is not effective to produce the product and there is no longer a profit maximization. The profit maximization approach when using marginal revenue and marginal cost is to make as many products as you can until marginal cost equals marginal revenue. B. 1. Marginal revenue it the change in total revenue divided by the change in quantity. To get total revenue so that you can calculate marginal revenue you need to take the price times quantity less total cost. Marginal revenue becomes elastic and stays constant when there is perfect competition. But marginal revenue usually...

Words: 883 - Pages: 4

Premium Essay

Edp 1 Task 1

...Running Head: Children's Literature Task 1 1 Children;s Literature Task 1 Arthur Carroll Western Governor's University Children's Literature Task 1 2 Children's Literature Task 1 It is well known that the world is filled to the brim with a rich history in athletics, education, science, politics, and the arts. What is not common knowledge is the history and richness of children's literature and how it eventually became what it is today. Just like most things, what we now know as children's literature is nothing like what it was originally, it has transformed into something else entirely. Nonetheless, it has as colorful a history as it does some of it's own books. Before children's literature was ever even written down it was given to children in a less tangible way; orally. Prior to publishers like Scholastic and Golden Books existence, the technology to write books was long and tedious, especially if the author was trying to make many copies. So instead, children's literature was told out loud where many could hear it at once and the time factor for preparation was at a minimum. Once authors had better technology to help simplify the process of physical writing, oral literature transformed into written literature. It wasn't always computers or even typewriters though, written used to literally mean written. Like the transformation from mouth to pen, pen evolved to......

Words: 882 - Pages: 4

Premium Essay

Unit 1 Assignment 1

...Homework Unit 1 Assignment 1 1. Why is the CPU the most important component in a computer? It’s the part of the computer that runs programs. 2. What number does a bit that is turned on represent? What number does a bit that is turned off represent? A turned on bit is 1 and a turned off bit is 0. 3. What would you call a device that works with binary data? A digital device 4. What are the words that make up a high-level programming language called? Key words or reserved words 5. What are the short words that are used in assembly language called? Mnemonics 6. What is the difference between a compiler and an interpreter? A compiler translates a high-lever program into a separate machine language program; whereas, an interpreter is a program that both translates AND executes instructions in a high-level program language program. 7. What type of software controls the internal operations of the computer’s hardware? Operating systems which is a type of system software. Unit 2 Assignment 1 Short Answer 1. What does a professional programmer usually do first to gain an understanding of a problem? Works with and interviews the customer to gain an understanding of what the customer wants the program to accomplish. 2. What is a pseudocode? A “fake” code that programmers use to test their programs before executing them. 3. Computer programs typically perform what three steps? A) Input is received B) Some process......

Words: 508 - Pages: 3

Free Essay

Unit 1 Assignment 1

...Unit 1 Assignment 1 Integrated Circuit Technology A motherboard is the backbone of the personal computer, it transfers information and power to all the other components. The motherboard is the largest board inside of the computer that contains the basic input and output system that allows every component to communicate with one another. Attached to the motherboard is a chip comprised with dozens of pins called the central processing unit. Along with the CPU attached to the motherboard is the dual-inline memory modules a part of the random access memory. RAM is the most common type of memory used another type is ROM, read only memory, which stores data onto metal disc within the device. The operating system manages the hardware resources and provides a place to run programs. The last components of the personal computer are the tower and the human interface devices. The tower holds all the components that make up the computer except for the HID which are located outside of the computers tower. The main purpose of the HID’s are to help us interact with the computer, a few examples are the keyboard, mouse, monitor, video camera and speakers. You put together the Motherboard, CPU, RAM, ROM, OS, Tower, HID’s add a power supply and you have a basic personal computer. PROCESSOR TRANSISTOR YEAR Intel 4004 | 2,300 | 1971 | Intel 8008 | 3,500 | 1972 | Intel 8080 | 4,500 | 1974 | Intel 8085 | 6,500 | 1976 | ......

Words: 427 - Pages: 2

Premium Essay

Assingment 1 Unit 1

...1. Explain the difference between operating system software, application software, and utility software. The difference between the 3 programs is that the operating system is the central control for all programs on a computer. The utility software is what keeps the operating system and application working normal without clutter or virus. Then the application software is what issued in the operating system to interact with the hardware to make the computer my user friendly. 2. Explain the concept of virtual memory and why it is needed. Virtual memory is the use of hard drive space for program data that is currently not in use. So that the program that does need the ram memory can use it without being hinder. 3. What would be a possible cause of disk “thrashing”? Disk thrashing could be possible if you have to mean application open at once. Which could over run your ram and your virtual memory? This could cause considerable damage to the hard drive do to the transferred data back and forth over it. 4. How is the Windows registry organized? Keys and sub keys 5. How would you change mouse parameters like double-click speed? To change the parameters you would first go to the start button on bottom left of your screen. From there find the control panel and click it. The go to the hardware and sound button were you will find the mouse button. Once you’re in mouse properties under the buttons tab you will see the double-click speed option to change it. 6. Why...

Words: 501 - Pages: 3

Premium Essay

Etg 1 Task 1

...unit of output is produced and sold, MR is the derivate of total revenue taken with respect to quantity. This the formula is used to determine the marginal revenue. ΔTR/ ΔQ Now I will show how marginal revenue increases, decreases, or remains constant in the given scenario. MR decreases as the quantity increase. Applying the ΔTR/ ΔQ equation shows that as more units are produced the firm earns $10.00 on each additional unit of output. For example, a company producing widgets has a total revenue of $0, when it doesn't produce any output. The revenue it sees from producing its first widget is $150, bringing marginal revenue to $150 ($150 in total revenue/1 unit of product). If the revenue from the second widget is $290, the marginal revenue gained by producing the second widget is $10 (change in total revenue: $290-$150/1 = $140 from $150 = $10 for each additional unit). Now I will explain the calculation used to determine marginal cost. Marginal cost is (MC) = ΔTC /ΔQ or Where Δ= Change, TC= Total Cost, Q= Quantity Discuss how marginal cost increases, decreases, or remains constant in the given scenario. MC appears to decrease then stabilize after the first widget is sold. The price decreases from the first unit of output from $20.00 and becomes stable with each addition output unit. Explain where profit-maximization occurs for Company A using the chart provided in the given scenario. In this scenario, profit maximization occurs when 8 widgets of output are......

Words: 586 - Pages: 3

Premium Essay

Unit 1 Assignment 1

...Unit 1 Assignment 1 Exploring Programming Languages PT1420 Introduction to Programming Pong Sintaisong ITT-Tech Tempe Campus Instructor: Ms. Kate Eskesen 9/23/2015 5 Programming Languages 1970s-2000 1970s Pascal: Niklaus Wirth was is the invertor and was invented in 1971 Motivation: To provide features that were lacking in other languages at the time. Forth: Forth was created in 1970 by Charles H. Moore Motivation: He wanted to create a language that would allow direct user and machine interactions. C: In 1971-73 Dennis M. Ritchie turned the B language into the C language. Motivation: Lack of features from B language so made C language. Prolog: Alain Colmerauer in 1973. Motivation: Unknown ML: In 1973 ML was invented as part of the University of Edinburgh's LCF project Motivation: Research in constructing automated theorem provers. Eventually saw that the "Meta Language" they used for proving theorems was more generally useful as a programming language. 1980s C++: Bjarne Stroustrup was the inventor. 1979 Motivation: He needed the use of a programming language that was concise and that produced compact and speedy programs. MATLAB: First Fortran MATLAB was portable and could be compiled to run on many of the computers that were available in the late 1970s and early 1980s. Cleve Moler is the inventor. Motivation: This document for engineers developing models and generating code for embedded systems using Model-Based Design with MathWorks......

Words: 715 - Pages: 3

Free Essay

Triet Ly Kinh Doanh

...TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN QUẢN TRỊ KINH DOANH TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC (ĐÀO TẠO CAO HỌC) Đề tài: Về triết lý kinh doanh và triết lý doanh nghiệp “Triết lý kinh doanh và triết lý doanh nghiệp trong phát triển của doanh nghiệp” Người viết: Tống Nguyễn Hồng Việt Mã học viên: Lớp: EMBA 14A Khóa: 14 MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 3 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TRIẾT LÝ KINH DOANH 4 1.1. Khái niệm và mối quan hệ giữa triết lý kinh doanh và triết lý doanh nghiệp 4 1.2. Hình thức thể hiện và nội dung cơ bản của triết lý doanh nghiệp 6 1.3. Vai trò của triết lý doanh nghiệp trong phát triển doanh nghiệp 8 CHƯƠNG II: TRIẾT LÝ KINH DOANH CỦA TẬP ĐOÀN FPT 10 2.1. Giới thiệu chung về tập đoàn FPT 10 2.2. Triết lý kinh doanh của chủ tịch tập đoàn và tập đoàn 11 2.3. Đánh giá thành công đạt được 14 KẾT LUẬN 15 TÀI LIỆU THAM KHẢO 16 ĐẶT VẤN ĐỀ Ở Việt Nam, triết lý kinh doanh đã tiềm ẩn từ lâu trong tư duy và hành động của nhiều nhà kinh doanh có tầm nhìn chiến lược thuộc các thành phần kinh tế, tuy nhiên chưa phổ biến rộng rãi, chưa được hình thành có hệ thống và thể hiện một cách chính thức, khiến nhiều chuyên gia nước ngoài khi nhận xét về các doanh nghiệp Việt Nam, cho rằng: “đa số các doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay đều không có triết lý kinh doanh và chiến lược kinh doanh dài hạn”. Sự phát triển không ngừng của nền kinh tế xã hội, sự hội nhập, giao lưu hợp tác kinh tế giữa các khu vực, các quốc gia trên toàn thế giới, đặc biệt là từ khi Việt Nam chính thức gia...

Words: 5742 - Pages: 23

Free Essay

Unit 1 Excercise 1

... Lab 1.1 review 1.Convert the decimal value 127 to binary. Explain the process of conversion that you used. 64 32 16 8 4 2 1 1 1 1 1 1 1 1 127-64= 63-32=31-16=15-8=7-4=3-2=1-1=0 127=1111111 2. Explain why the values 102 and 00102 are equivalent. The values are equivalent because it’s de same numerical meaning. Everything else after the one is a zero and there is no need to show the zero. 3. Based on the breakdown of the decimal and binary systems in this lab, describe the available digit values and the first four digits of a base 5 numbering system. You can use the binary system as a reference, where the available digit values are 0 and 1 and the first four digits are 1, 2, 4, and 8. In base 5, we use only 5 digits 0, 1, 2, 3 , and 4. The first four digits would be 1, 5, 25, and 125 4-Using the Internet and the Help files in Excel, explain why creating a converter from decimal to binary would be more difficult to construct. Hint: you should consider the conditional evalua- tion of whether the decimal value remaining is larger than the binary digit value. There are many converters already build into to excel itself. =DEC2BIN (9, 4) is a decimal to binary converter for the number 9 and it will show 4 places. If you leave the 4 out of the parentheses and it will only give you the places necessary to give you the number LAB 1.2) review 1. Determine the result of 100100002 + 11011102. Show......

Words: 1606 - Pages: 7

Premium Essay

Est 1 Task 1

...EST-1 Task 1 Many people believe that businesses are obligated to have an ethical duty to be socially responsible, in order to work towards increasing its positive effects on society while decreasing its negative effects. Many organizations or companies seek opportunities to be socially responsible while also making a profit for its shareholders. Company Q, a local grocery store chain recently closed two stores in high crime rate areas of the city because they constantly lost money. After years of requests and demands from customers, all of Company Q’s stores have now offers a limited amount of healthy and organic products, all of which are high profit items. It was suggested to Company Q by the area’s local food bank to donate day old food and goods and the board of directors declined. Company Q’s choice to throw away excess food rather than donate in fear of employee theft can be considered socially irresponsible. According to the USDA (2014), more food reaches landfills and incinerators than other materials in our everyday trash, making up twenty one percent of discarded municipal solid waste. According to Coleman-Jensen (2014), One in six people in America are facing hunger and forty nine million Americans are struggling to put food on the table daily. To know this information and still prefer to throw away goods is not only wasteful but socially irresponsible. Let’s examine what Company Q can do to amend their attitude toward being socially responsible. ......

Words: 762 - Pages: 4

santana just feel better ft steven tyler (official video) | Lien 25: Add: 28-01-2018 06:24 PM Téléchargement | 2018 NFL Season